HÀ NỘI HỌC, THÀNH PHỐ HẠNH PHÚC, KINH TẾ CHIA SẺ VÀ HƠN THẾ NỮA | Xem trên mobile tốt nhất cần truy cập: On ( Để liên thông 36pho.com với Facebook mà không bị nhẩy hay ngắt quãng )
Hà Nội
Phố
Chợ
Sàn TMĐT
Tiện ích
Di sản
Văn hoá vật thể
Văn hoá phi vật thể
Địa chỉ Đỏ
Cửa ô có từ năm 1749. Tên chữ: Đông Môn Tự. Xếp hạng: Di tích quốc gia (1994). Vị trí: số 1 phố Hàng Chiếu, Hoàn Kiếm, Hà nội, Việt Nam.
Lấy cảm hứng từ hình ảnh bàn xoay động, như quá trình người thợ chuốt khối đất sét, thổi hồn thành tác phẩm. Hình thái công trình là kết quả 7 khối bàn xoay gốm đấu vào nhau, ngẫu nhiên và tự do. Tôn trọng nét mộc mạc, bình dị của làng gốm, các vật liệu địa phương như gạch nung, gốm màu, ngói Bát Tràng…. được sử dụng triệt để.
Đình Cổ Vũ (phường Hàng Gai, Hà Nội) là nơi lưu giữ bộ sưu tập di vật văn hóa có giá trị lịch sử. Trong đó có các tấm bia đá cổ mang giá trị đặc biệt, được dựng từ năm Mậu Tuất, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 39 (1778), các bia có nội dung ghi việc xây dựng, trùng tu, sửa chữa và biểu dương những người công đức.
Qua các nguồn tư liệu thư tịch cổ cho biết, di tích đền Hương Tượng được khởi dựng từ triều Trần. Trải qua các triều vua đều được ban sắc phong thần và được trùng tu sửa chữa nhiều lần qua các năm: Vĩnh Hựu năm thứ 3 (1737), Gia Long (1802 - 1820), Minh Mệnh năm thứ 6 (1825), Tự Đức (1848 - 1883), Thành Thái năm thứ 16 (1904). Diện mạo của ngôi đền hiện nay mang dấu vết của lần trùng tu dưới triều Nguyễn.
Chùa Thanh Nhàn có qui mô lớn. Tam quan cấu trúc được thể hiện theo kiểu cột trụ, có một cổng chính. Khu kiến trúc thờ chính, từ tam quan qua một sân rộng lát gạch là tới chùa chính. Chùa chính tọa lạc trên vị trí cao nhất so với các công trình kiến trúc phụ trợ và quay hướng Nam nhìn ra khoảng sân và ao sen của chùa. Chùa kết cấu hình chữ “đinh” (chuôi vồ), kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta.
Đông Môn Tự là ngôi chùa của làng Đông Hoa Môn. Tương truyền chùa có từ đầu thời Lý, đến thời Trần lại được Linh Từ Quốc Mẫu Trần Thị Dung cho sửa sang. Tuy nhiên hiện nay chỉ lưu giữ được những tấm bia dựng nhân dịp chùa được trùng tu lớn vào các năm 1624, 1639, 1711, 1816 khắc ghi lại vị trí và quá trình xây chùa từ thời Lê Trung Hưng.
Chùa Thái Cam vốn của thôn Tân Khai, một thôn mới được thành lập vào năm 1822 trên nền dải đất hoang phía đông hoàng thành thời Lê, thuộc tổng Tiền Túc (sau đổi là tổng Thuận Mỹ), huyện Thọ Xương cũ. Trên cổng chính của chùa có đắp nổi 4 chữ “Tân Khai linh tự”, song đã từ lâu nhân dân thường gọi bằng một tên khác là chùa Thái Cam vì tương truyền ở đây “… có một cái giếng cổ nước rất thơm ngọt, gọi là giếng Thái Cam”.
Quán Huyền Thiên vốn là nơi thờ Huyền Thiên Thượng Đế, vị thần trấn phương Bắc được thờ ở đền Quán Thánh. Tục thờ này xuất hiện ở nước ta từ thời Bắc thuộc. Trong quán có một pho tượng của Ngài bằng gỗ trầm. Khi đạo Lão suy, đạo Phật thịnh, dân trong thôn đưa tượng Phật vào thờ chung, từ đó cũng quen gọi là chùa Quán Huyền Thiên hay đền Huyền Thiên.
Từ xa xưa mảnh đất này đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của dân tộc, trong suốt quá trình hình thành và phát triển của đất nước. Địa lý lịch sử là cảnh quan thiên nhiên đã tác động mạnh mẽ đến nội dung giá trị lịch sử của di tích lịch sử văn hóa của làng Tứ Kỳ trong đó có ngôi chùa.
Sở Thượng là một làng Việt cổ, nằm ở tả ngạn sông Hồng, phía Nam kinh thành Thăng Long, một vùng đất có lịch sử tạo dựng và phát triển rất sớm, với vị thế hiểm yếu án ngữ đường thuỷ phía Nam kinh đô Thăng Long. Làng Sở Thượng hình thành vào cuối thế kỷ XV, vốn là đất An Duyên hay Yên Duyên vào thời Lê Thánh Tông (1460 – 1479).